Home

 
 
 
Tin tức FTP Server Webmail Addr. list Member
 
   
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

bộ GIAO THÔNG VậN TảI

BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

CTY TVTK GTVT PHíA NAM

Số: …………/

CộNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

      Tp. Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 08 năm 2004

 

 

Kính gửi:           - BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

                                                - UBND THàNH PHố Hồ CHí MINH

 

BÁO CÁO TÌNH HÌNH TRIN KHAI THỰC HIỆN QUI HOẠCH CHI TIẾT NHÓM CẢNG BIỂN SỐ 5 TRONG ĐÓ CÓ QUY HOẠCH DI DỜI CÁC CẢNG TRÊN SÔNG SÀI GÒN VÀ NHÀ MÁY ĐÓNG TÀU BA SON

I/ Mở đầu: Thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 18/11/2002 của Bộ Chính Trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 và nhiệm vụ được giao tại văn bản số 6278/VPCP-NN ngày 11/11/2002 của Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ GTVT chủ trì và giao công ty tư vấn thiết kế GTVT phía Nam (TEDI South) lập Quy hoạch chi tiết nhóm cảng số 5 (nhóm cảng biển thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu) và Quy hoạch tổng thể di dời các cảng trên sông Sài Gòn và Nhà máy Đóng tàu Ba Son.

Quy hoạch được nghiên cứu hoàn thành cơ bản vào tháng 7/2003. Bộ GTVT đã gửi hồ sơ xin ý kiến của UBND thành phố Hồ Chí Minh, UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, UBND tỉnh Đồng Nai và các Bộ Ngành liên quan, đồng thời xem xét nguyện vọng của các Cảng và Nhà máy thuộc đối tượng di dời. Các ý kiến đóng góp đã được nghiên cứu tiếp thu và đưa vào hồ sơ quy hoạch, Về cơ bản các tỉnh thành và các Bộ Ngành, các Cảng và Nhà máy thống nhất với các đề xuất của Bộ GTVT). Bộ GTVT đã hoàn chỉnh và có Tờ trình số 1159/GTVT-KHĐT ngày 17/03/2004 và tôứ trình 3330/GTVT-KHĐT ngày 05/07/2004 trình Thủ Tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Quy hoạch nói trên. 

Điều cần lưu ý rằng, Quy hoạch trên đã bắt đầu triển khai nghiên cứu từ năm 1996 trên cơ sở các các quy hoạch đã và đang thực hiện, trên cơ sở Phạm vi nghiên cứu là toàn Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó bao gồm Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu. Quy hoạch cảng của từng tỉnh, thành (kể cả quy hoạch di dời) đều gắn chặt và là một bộ phận không tách rời Quy hoạch toàn vùng, theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính Trị về phương hướng phát triển đồng bộ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là “không lấy ranh giới hành chính giữa các Tỉnh, Thành làm rào cản sự phát triển chung của khu vực”. Các Quy hoạch đó là:

1.         Qui hoạch tổng thể phát triển Hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt bằng quyết định số 202/1999/QĐ-TTg ngày 12 tháng 10 năm 1999.

2.         Quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu (nhóm 5) đến năm 2010, được Bộ GTVT trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 4554/GTVT-KHĐT ngày 28/11/2002 và được Bộ KH&ĐT thẩm định và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt tại Tờ trình số 3116 BKH/VPTĐ ngày 27/5/2003.

3.         Nghiên cứu phát triển cảng miền Nam Việt Nam do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lập tháng 12/2002.

4.         Quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 được Bộ GTVT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Tờ trình số 1270/GTVT-KHĐT ngày 01/4/2003.

II/ Quan điểm và định hướng Quy hoạch:

Trong báo cáo Quy hoạch, Bộ GTVT đã đưa ra 5 quan điểm và tiêu chí di dời cảng, Tháng 12/2003, tại Tp. Hồ Chí Minh, Phó Thủ Tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì Hội nghị xem xét Quy hoạch chi tiết nhóm cảng số 5 và Quy hoạch tổng thể di dời các cảng trên sông Sài Gòn và Nhà máy Đóng tầu Ba Son. Tại Thông báo cuộc họp số 04/TB-VPCP ngày 13/01/2004, Phó Thủ Tướng đã có một số các kết luận như sau:

- Do mối quan hệ chặt chẽ và tính chất không thể tách rời giữa Quy hoạch chi tiết nhóm cảng số 5 (khu vực thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu) và Quy hoạch di dời các cảng trên sông Sài Gòn và Nhà máy đóng tàu Ba Son, nên yêu cầu Quy hoạch di dời phải gắn chặt và là một bộ phận của Quy hoạch chi tiết nhóm cảng số 5.

- Quan điểm và định hướng Quy hoạch chi tiết nhóm cảng số 5:

Việc phát triển cảng biển khu vực này phải phù hợp với định hướng phát triển dài hạn của thành phố Hồ Chí Minh và kinh tế toàn vùng, do vậy phải lấy quan điểm phát triển cảng hướng ra biển làm mục đích chủ đạo để xây dựng các cảng biển lớn, cảng cửa ngõ, cảng nước sâu hiện đại làm động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm; đồng thời đáp ứng khả năng cạnh tranh với các cảng biển khu vực trong quá trình hội nhập quốc tế. Trên tinh thần đó hết sức chú trọng phát triển cảng biển lớn tại Khu vực sông Cái Mép - Thị Vải thuộc Bà Rịa Vũng Tàu. Coi khu vực này là tài nguyên quý giá để xây dựng các cảng biển lớn, trong đó nghiên cứu xây dựng một khu căn cứ dịch vụ dầu khí hoàn chỉnh, hiện đại nhằm phục vụ hiệu quả cho công tác thăm dò, khai thác dầu khí tại vùng biển phía Nam. Phải có chính sách cụ thể cho việc quản lý đầu tư xây dựng cảng tại đây, lưu ý phân định các khu cảng chức năng có quy mô lớn do nhà nước đầu tư; phải chấm dứt tình trạng xây dựng manh mún, dành đất chiếm chỗ không triển khai dự án; đồng thời hạn chế tối đa việc xây cảng biển chuyên dùng. Theo đó, việc phát triển cảng biển lớn sử dụng vốn ODA, Nhật Bản tại khu vực Cái Mép - Thị Vải cần được tiến hành khẩn trương, cũng như khuyến khích các doanh nghiệp cảng biển lớn trong nước tham gia đầu tư xây dựng thêm các bến liền kề tạo thành khu cảng có quy mô lớn, đồng bộ tại khu vực này để đáp ứng được nhu cầu phát triển vùng kinh tế trọng điểm; đồng thời, cần tính toán kỹ quy mô và phạm vi phát triển cảng biển tại khu vực Cát Lái và Hiệp Phước để vừa đáp ứng nhu cầu phát triển, vừa phù hợp với quy hoạch chung của thành phố Hồ Chí Minh.

Quy hoạch cảng biển toàn vùng phải được xây dựng và xem xét tổng thể, đồng bộ trong mối quan hệ với quy hoạch đóng tàu biển, quy hoạch vận tải biển, quy hoạch phát triển đội ngũ thuyền viên và chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho khai thác cảng biển. Ngoài ra, quy hoạch cảng biển vùng này cần phải gắn kết với quy hoạch các vùng công nghiệp khác cũng như với quy hoạch phát triển các tuyến giao thông đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, nhất là tổ chức nghiên cứu tận dụng tối đa việc khai thác các tuyến luồng sông hiện có như  Thị Vải - Cái Mép, Lòng Tàu, Sông Dinh, Soài Rạp.

- Quan điểm và định hướng di dời các cảng trên sông Sài Gòn:

Xác định quan điểm di dời các cảng trên sông Sài Gòn ra khỏi nội đô Thành phố Hồ Chí Minh là một việc lớn, quan trọng, phức tạp, đòi hỏi thời gian nhất định. Quá trình thực hiện phải theo đúng ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 20/NQ-TW ngày 18 tháng 11 năm 2002 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, đó là: “Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với thành phố xây dựng phương án, kế hoạch di dời hệ thống cảng biển ra khỏi khu vực nội thành một cách hợp lý, chặt chẽ, có tiến độ phù hợp để quá trình di dời không gây ra ách tắc, lãng phí và hạn chế ảnh hưởng xấu đối với sản xuất kinh doanh và an ninh quốc phòng”.

Về định hướng di dời: Bộ Giao thông vận tải cần tính toán cụ thể, hợp lý về quy mô, phạm vi, tiến độ di dời các cảng trên sông Sài Gòn. Đối với khu vực thành phố Hồ Chí Minh phát triển cảng biển ra khu vực Hiệp Phước và Cát Lái. Trong đó lưu ý, quy hoạch di dời phải phù hợp với định hướng phát triển của thành phố trong dài hạn, do đó cần xem xét, tính toán mức độ phát triển một cách hài hòa giữa hai khu vực trên. Trên tinh thần đó, đồng ý di dời một phần cảng Sài Gòn ra Hiệp Phước và một phần Tân Cảng ra Cát Lái; đồng thời cho phép định hướng đầu tư phát triển cảng Sài gòn và Tân Cảng ra khu vực Cái Mép - Thị Vải (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu) nhằm đáp ứng được yêu cầu kinh tế vùng và phát huy được vai trò cũng như kinh nghiệm, khả năng khai thác cảng biển lớn của hai doanh nghiệp này. Đối với việc di dời Nhà máy đóng tàu Ba Son: Thống nhất đề nghị của Bộ Quốc phòng việc di dời Nhà máy đến khu vực như rạch Bàn Thạch (khu vực Cái mép), trong đó xác định mục tiêu phát triển với chức năng đóng mới, sửa chữa các loại tàu phục vụ quốc phòng và phát triển kinh tế.

III/ Tình hình triển khai Dự án của các cảng và nhà máy thuộc đối tượng di dời:

Các cảng chính như Tân cảng, Ba Son, Cảng Sài Gòn, sau khi khảo sát và nghiên cứu nhiều địa điểm, đều có văn bản gửi Thủ tướng Chính Phủ và các cấp có thẩm quyền, với nguyện vọng là đầu tư di dời 1 phần ra khu Cát Lái hoặc Hiệp Phước, di dời phần còn lại và đầu tư phát triển ra khu Cái Mép – Thị Vải tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Các cơ quan chủ quản của các đơn vị này như Bộ Quốc Phòng, Tổng công ty hàng hải Việt nam, Bộ GTVT đều có văn bản ủng hộ. Cụ thể như sau:

a.          Cảng Tân Cảng:

- Đã chuẩn bị cơ sở hạ tầng ở khu Cát Lái, ngoài 300m cảng hiện hữu, đang hoàn thiện thêm 850m. Tiếp tục phát triển thêm 600m ở thượng lưu nhằm phục vụ cho di dời.

- Đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phát triển cảng Tân Cảng ra khu vực Cái Mép - Thị Vải (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu), đã được Thủ tướng Chính Phủ đồng ý về mặt nguyên tắc tại Thông báo số 04/TB-VPCP ngày 13/01/2004. Công văn số 1455/BQP ngày 06/4/2004 gửi Thủ tướng Chính Phủ về việc xin thỏa thuận địa điểm xây dựng cảng container tại khu Cái Mép thượng, sông Thị Vải, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cho Tân Cảng. Tại Tờ trình số 3330/GTVT-KHĐT ngày 05/7/2004 của Bộ GTVT trình Thủ tướng Chính Phủ về bổ sung điều chỉnh Quy hoạch các cảng khu vực Cái Mép- Thị Vải, cũng đã thống nhất đề nghị trên. Công văn số 3349/UB-VP ngày 21/6/2004 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chấp thuận địa điểm nói trên.

 

 

b.        Nhà máy đóng tàu Ba Son:

- Đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư ra khu vực Cái Mép - Thị Vải (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu), đã được Thủ tướng Chính Phủ đồng ý về mặt nguyên tắc tại Thông báo số 04/TB-VPCP ngày 13/01/2004. Công văn số 3582/QP ngày 17/10/2002 gửi Thủ tướng Chính Phủ về việc đề nghị cấp đất để xây dựng Nhà máy đóng sứa chữa tàu tại khu Cái Mép, sông Thị Vải, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cho Nhà máy Ba Son. Tại Thông báo chung số 86 UBT-BGTVT ngày 14/4/2004 của Bộ GTVT và UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu về việc quy hoạch và quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cảng Thị Vải - Cái Mép cũng đã thống nhất đề nghị trên. Công văn số 5358/UB.XD ngày 29/10/2003 của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng đã chấp thuận địa điểm nói trên.

c.       Cảng Sài Gòn:

- Đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư di dời 1 phần cảng Khánh Hội và Nhà Rồng ra khu Hiệp Phước (600m bến).

- Đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phát triển ra khu vực Cái Mép - Thị Vải (thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu), đã được Thủ tướng Chính Phủ đồng ý về mặt nguyên tắc tại Thông báo số 04/TB-VPCP ngày 13/01/2004. Công văn số 111/TTr-KHĐT ngày 9/02/2004 của Tổng công ty hàng hải Việt nam gửi Bộ GTVT và UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu về việc đề nghị thỏa thuận triển khai đầu tư xây dựng cảng Cái Mép Thị Vải do cảng Sài Gòn làm chủ đầu tư. Tại Thông báo chung số 86 UBT-BGTVT ngày 14/4/2004 của Bộ GTVT và UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu về việc quy hoạch và quản lý đầu tư xây dựng hệ thống cảng Thị Vải - Cái Mép cũng đã thống nhất đề nghị trên. Tại công văn số 969/GTVT-KHĐT ngày 08/3/2004 của Bộ GTVT và công văn số 222/UB.VP ngày 14/01/2004 của UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cũng đã chấp thuận địa điểm nói trên.

 

 

 

d. Các cảng còn lại: như cảng Tân Thuận Đông, cảng Bến Nghé, cảng Bông Sen… đều đang triển khai thực hiện dự án tại khu Cát Lái và khu Phú Hữu.

 

 

IV/ Quan điểm về quy hoạch cảng ở Khu vực Cần Giờ:

Trước đây từ những năm 1995-1996, cũng đã có 1 số đề xuất về quy hoạch cảng tiềm năng (sau năm 2020) cho thành phố Hồ Chí Minh tại khu vực này, cụ thể tại vị trí sông Ngã Bảy Thiềng Liềng và khu Gò Gia – Thị Vải.  Tuy nhiên, Qua Nghiên cứu phát triển cảng miền Nam Việt Nam do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lập tháng 12/2002 (TEDI South cũng đơn vị tư vấn tham gia nghiên cứu này) đã đi đến kết luận không bố trí cảng ỏ Khu vực Gò Gia – Thị Vải vì các lý do sau:

- Quy hoạch di dời các cảng trên sông Sài Gòn và Nhà máy đóng tàu Ba Son phải gắn chặt và là một bộ phận của Quy hoạch chi tiết nhóm cảng số 5.

- Khu vực nằm hoàn toàn trong khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam (khoảng 33.000 ha rừng sinh thái ngập mặn) đã được UNESCO công nhận ngày 21/02/2000, cần được bảo vệ nghiêm ngặt, giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị. Không nên để xẩy ra các trường hợp “bức tử” rừng ngập mặn tương tự ở Cà mau và Phú Quốc.

 

 

-  Khu vực này nằm trên sông Thị Vải ngay đối diện khu Cái Mép – Thị Vải của tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu nên tuy giống nhau hoàn toàn về điều kiện luồng lạch khu Cái Mép – Thị Vải nhưng hoàn toàn biệt lập, không có bất cứ một cơ sở hạ tầng kỹ thuật – kinh tế nào: cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 40km theo đường chim bay, nối với tuyến đường đi Cần giờ hiện hữu với tuyến ngắn nhất khoảng 20km, tuy nhiên để nối được với tuyến này ngoài việc xây dựng mới đường bộ cần phải xây dựng 1 loạt các hệ thống cầu qua 4 sông lớn như Lòng tàu, Đồng Trang, Ngã Bảy, Gò Gia và 4-5 sông nhỏ (chưa kể đến cầu qua sông Soài Rạp và cầu Cát Lái qua sông Đồng Nai), chi phí rất tốn kém và thời gian đầu tư rất lâu. Hơn nữa, nếu không lấy ranh giới hành chính giữa các Tỉnh, Thành làm rào cản sự phát triển chung của khu vực thì việc hình thành tuyến ” Đường liên cảng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, với việc xây dựng 1 cầu qua sông Thị Vải phía thượng nguồn, là có thể kết nối liên tục các khu cảng lớn của cả 3 tỉnh thành với chi phí và thời gian hợp lý nhất, tiết kiệm nhiều nhất cho đất nước.

 

 

- Khu vực nằm trong khu vực chồng lấn về địa chính của thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Đồng Nai, hiện nay vẫn chưa được giải quyết.

- Không phù hợp với nguyện vọng của các nhà đầu tư, các cảng lớn sẽ di dời.

 

 

Trên đây là Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Qui hoạch chi tiết Nhóm cảng biển số 5 trong đó có Quy hoạch di dời các cảng trên sông Sài Gòn và Nhà máy đóng tàu Ba Son, Công ty TVTK GTVT phía Nam kính trình Bộ Giao Thông Vận Tải và UBND Thành phố HCM biết và chỉ đạo thực hiện.

            Trân trọng kính chào

 

 

 

Nơi nhận:

- Như trên.

- Cục HH Việt Nam (Để b/c).

 

 

 

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt Quy hoạch chi tiết hệ thống cảng nhóm 5

và quy hoạch di dời

1/ Dự báo hàng hoá và hành khách:

Theo dự báo của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) lập tháng 12/2002 và Viện Chiến lược phát triển GTVT lập tháng 11/2003

Năm tính toán

Tp. Hồ Chí Minh

Đồng Nai

Bà Rịa – Vũng Tàu

Tổng cộng

Hàng hoá

Hành khách

Năm 2010

26 triệu tấn

12 triệu tấn

15 triệu tấn

53 triệu tấn

163.000 lít

Năm 2020

35 triệu tấn

24 triệu tấn

41 triệu tấn

100,5 triệu tấn

326.000 lít

2/ Dự báo về đội tàu:

Dự báo đội tàu hệ thống cảng tp Hồ Chí Minh (khu cảng Sài Gòn, Khu Cát Lái, khu Hiệp Phước) cho các tàu trọng tải đến 30.000DWT, hệ thống cảng Thị Vải, Vũng Tàu giai đoạn 2010 cho tàu đến 60.000DWT, giai đoạn 2020 cho tàu đến 80.000 DWT.

3/ Tiến độ di dời

- Tiến độ di dời thực tế bắt đầu từ năm 2008 - 2010, sau khi các cơ sở mới hoàn thành, các cảng phải đảm bảo được nguồn vốn để triển khai.

4/ Kinh Phí di dời

- sơ bộ cần khoảng 12.530 tỷ đồng để thực hiện công tác di dời

5/ Quy hoạch Hệ thống cơ sở hạ tầng:

a. Mạng đường bộ

- Hệ thống cảng Tp. Hồ Chí Minh: được nối kết với các tuyến vành đai của thành phố và qua đó nối kết với các tuyến trục giao thông liên vùng

- Hệ thống cảng Đồng Nai: Các khu cảng trên sông Đồng Nai, Nhà Bè, Lòng Tàu và sông Thị Vải được nối kết với tuyến vành đai 2 của Tp. HCM, tuyến cao tốc Tp. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây và nối kết với các tuyến trục giao thông liên vùng.

- Hệ thống cảng Bà Rịa - Vũng Tàu: được nối kết trực tiếp với quốc lộ 51, tuyến cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, qua đó nối kết với các tuyến trục giao thông liên vùng.

Cả 3 Hệ thống cảng này sẽ được kết nối bởi 1 tuyến ” Đường liên cảng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, cần xây dung 1 cầu (tỉnh không tối đa 37m qua sông Thị Vải phía thượng nguồn) để kết nối khu cảng Cái Mép – Thị Vải, khu Phước An, khu Phú Hữu, khu Cát Lái và khu Hiệp Phước.

b. Mạng đường sắt

Quy hoạch tuyến đường sắt tới khu cảng Cát Lái, Hiệp Phước và khu cảng Thị Vải, Cái Mép, theo tuyến đường sắt Biên Hòa- Vũng Tàu, kết nối tuyến đường sắt Bắc - Nam.

c. Qui hoạch các luồng chạy tầu trong khu  vực

- Luồng Lòng Tàu: Tổng chiều dài luồng từ phao số "0" vào tới cảng Sài Gòn là 85km. Độ sâu tự nhiên chỗ cạn nhất là -7,00m. Hiện nay và trong tương lai, vẫn nạo vét duy trì độ sâu -8,5m cho tàu 15.000 - 20.000DWT, lợi dụng triều cho tàu 30.000DWT.

- Luồng Soài Rạp: Dài 40km, độ sâu tự nhiên chỗ cạn nhất là -5,30m, khai thác bước đầu cho tàu trọng tải đến 7.000DWT. Tiếp tục nghiên cứu khả năng nạo vét thử nghiệm giai đoạn II, nâng cấp cải tạo cho các cỡ tàu đến 20.000DWT. Hiện nay, tàu 20.000DWT vào cảng Hiệp Phước vẫn theo luồng Lòng Tàu qua mũi Bình Khánh vào sông Soài Rạp (chiều dài luồng từ phao số "0" vào tới cảng Hiệp Phước theo tuyến này là 77km), Lưu ý rằng ngay cả đi theo tuyến luồng này vẫn thuận lợi hơn tuyến luồng Lòng Tàu – cảng Sài Gòn hiện nay do cự ly hành hải ngắn hơn, số đoạn cong ít hơn và đặc biệt là các bán kính cong là lớn hơn, thuận lợi cho việc xoay trở tău an toàn.

- Luồng Thị Vải - Vũng Tàu: Tổng chiều dài luồng từ phao số "0" đến cảng Gò Dầu là 47km. Độ sâu tự nhiên chỗ cạn nhất là -10,60m, hiện đang lợi dụng triều khai thác cho tàu đến 60.000DWT vào khu cảng Cái Mép và Thị Vải (Phú Mỹ). Đến 2010 nạo vét tới cao độ -14,0m cho tàu trọng tải 60.000DWT vào tới Cái Mép (hành thủy 24/24 giờ), tới Thị Vải nạo vét tới -12,0m, lợi dụng triều cho tàu trọng tải 50.000DWT.

Việc nạo vét Luồng Thị Vải đã được tính toán trong dự án đầu tư xây dựng cảng Quốc tế Cái Mép - Thị Vải bằng vốn vay ODA (Nhật Bản) sẽ khởi công vào năm 2005.

6/ Bố trí Quy hoạch hệ thống cảng:

1. Quy hoạch chi tiết cụm cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

a. Khu cảng Sài Gòn trên sông Sài Gòn

Trên khu vực này có 4 cảng chính, một nhà máy đóng tàu và một số cảng nhỏ khác.

- Tân Cảng: Chiều dài bến 1.289m, Đến năm 2006 - 2008 toàn bộ sẽ di chuyển ra khu Cát Lái và Cái Mép. Sau khi di dời tái thiết thành khu cao ốc văn phòng, công viên.

- Xí nghiệp Liên hợp Ba Son: Chiều dài bến là 754m. Di dời ra khu vực rạch Bàn Thạch Bà Rịa Vũng Tàu năm 2008-2009. Sau khi di dời sẽ cải tạo một phần thành công viên, giữ lại khu lưu niệm Bác Tôn và chuyển thành khu cao ốc văn phòng, dân cư.

- Cảng Sài Gòn: Chiều dài bến 2.667m, trong đó khu Nhà Rồng - Khánh Hội: 1735m.  (Khu Nhà Rồng dài 590m, khu Khánh Hội dài 1145m, khu Tân Thuận và Tân Thuận II có tổng chiều dài 932m). Giai đoạn 2005-2010 sẽ di chuyển khu Nhà Rồng và một phần khu Khánh Hội (2 bến) ra khu vực Hiệp Phước. Từ năm 2010-2020 sẽ di chuyển các bến còn lại. Xây dựng cảng Sài Gòn mới tại Cái Mép - Thị Vải. Khu vực Nhà Rồng và Khánh Hội sau khi di dời sẽ chuyển đổi thành khu bến khách quốc tế, khu trung tâm thương mại, khu công viên du lịch…

- Cảng Bến Nghé: Chiều dài bến 816m, chuyển đổi mục đích sử dụng sau 2010.

- Cảng VICT: Chiều dài 490m. Chưa xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng.

- Cảng Bông Sen: Chiều dài bến 300m. chuyển đổi mục đích sử dụng sau 2010

- Các cảng Tân Thuận Đông, cảng Rau Quả sẽ được di dời để phục vụ xây dựng hệ thống cầu qua sông Sài Gòn. Dự kiến cảng Tân Thuận Đông di dời sang khu vực Cát Lái, cảng Rau Quả di dời sang khu vực Hiệp Phước.

b. Khu cảng Cát Lái - sông Đồng Nai

Ngoài các cảng chuyên dụng hiện hữu (cảng Xi măng Sao Mai, cảng Sài Gòn Petro, cảng dầu Petec, cảng gỗ Vitaico…), quy hoạch cảng khu vực này như sau:

- Cảng KCN Cát Lái (Saigon IPD): Tổng chiều dài bến 1000m, cỡ tàu 20.000DWT.

- Tân Cảng- Cát Lái: Chiều dài bến đã và đang xây dựng 850m. Quy hoạch phát triển thêm 600m phía thượng lưu nhằm phục vụ cho di dời.

- Dành 300m phía thượng lưu của khu đất Tân Cảng dự kiến để đầu tư xây dựng cảng Tân Thuận Đông mới phục vụ cho di dời cảng cũ trong nội thành ra.  

- cảng Bến Nghé mới (thượng lưu rạch Bà Cua): chiều dài 600m.

c. Khu cảng Nhà Bè – sông Nhà Bè:

Bao gồm các cảng chuyên dùng hiện hữu và các cảng kho xăng dầu…

d. Khu cảng Hiệp Phước - sông Soài Rạp

Tổng chiều dài tuyến cảng khu vực này khoảng gần 10km. Quy hoạch chi tiết khu cảng Hiệp Phước trên sông Soài Rạp, ngoài các cảng hiện đang hoạt động là cảng NM Điện Hiệp Phước, cảng Trạm Phân phối xi măng Nghi Sơn, cảng Trạm nghiền xi măng COTEC, toàn khu vực được phân chia thành các khu cảng sau:

- Khu vực thượng lưu kênh Đông Điền: Bố trí các cảng chuyên dụng cho tàu tới 15.000DWT. Tổng chiều dài tuyến bến khoảng 1,3km.

- Khu vực hạ lưu kênh Đông Điền tới rạch Mương lớn: Bố trí một khu cảng tổng hợp (cảng KCN Hiệp Phước) gồm 3 bến, chiều dài 600m,  2 cảng chuyên dụng, khu vực còn lại kéo dài tới rạch Mương Lớn (dài khoảng 1,45km) bố trí cảng tổng hợp tiềm năng.

- Khu vực hạ lưu rạch Mương Lớn: có chiều dài tuyến bến khoảng 2,1km. Dự kiến đến năm 2010, sẽ xây dựng tại đây 600m bến (phục vụ di dời của cảng Sài Gòn) và khoảng 400m bến (phục vụ di dời của cảng Rau Quả).

- Khu vực tiếp theo kéo dài đến Kênh Hàng bố trí các cảng tiềm năng với chiều dài tuyến bến khoảng 4, 4 km

Cỡ tàu quy hoạch vào khu cảng này tương đương với cảng Sài Gòn là 30.000 DWT.

2. Quy hoạch chi tiết cụm cảng tỉnh Đồng Nai

a. Khu cảng Phú Hữu, Ông Kèo - trên sông Nhà Bè - Lòng Tàu với tổng chiều dài quy hoạch là 1750m và các cảng chuyên dụng khác.

b. Khu cảng Gò Dầu A, Gò Dầu B và khu cảng Phước An - trên sông Thị Vải, Khu cảng Phước An: Tổng chiều dài bến quy hoạch là 1735m cho tàu trọng tải 30.000DWT.

3. Quy hoạch chi tiết cụm cảng tỉnh Bà Rịa  Vũng Tàu:

a. Khu cảng Gò Dầu C

Bao gồm cảng Gò Dầu C và cảng Tổng hợp Mỹ Xuân.

b. Khu cảng Thị Vải (Phú Mỹ): Tổng chiều dài hơn 6km, tàu có trọng tải đến 30.000DWT ¸ 50.000DWT.

- Cảng Quốc tế Cái Mép- Thị Vải (phần bến tổng hợp Thị Vải) chiều dài tuyến bến 1800m, cho tầu 50.000 DWT. Đến năm 2010 xây dựng 2 bến với chiều dài 600m, đầu tư bằng vốn vay ODA (Nhật Bản). Phần còn lại dài 1200m dự kiến sẽ phát triển cảng mới của cảng Sài Gòn, trong đó đến 2010 cũng sẽ đầu tư xây dựng 02 bến với chiều dài 600m.

- Khu vực Rạch Bàn Thạch (hạ lưu khu cảng Phú Mỹ) dự kiến dành cho xây dựng Nhà máy đóng tàu Ba Son mới (phục vụ cho di dời nhà máy Ba Son từ nội thành Tp. HCM ra). Khu đất dự kiến khoảng 67ha.

c./ Khu cảng Cái Mép

- Cảng container Cái mép Thượng, chiều dài tuyến bến 900m cho tầu container 50.000DWT. Khu vực này được sử dụng phục vụ công tác di dời, cụ thể Tân Cảng Sài Gòn sẽ xây dựng cảng mới tại đây.

- Cảng Quốc tế Cái Mép - Thị Vải (phần bến container Cái Mép hạ), chiều dài tuyến bến 1800m - 1900m, cho tầu container trọng tải 50.000-80.000 DWT. Đến năm  2010 xây dựng 02 bến cho tàu container 50.000DWT với chiều dài bến 600m, đầu tư bằng vốn vay ODA (Nhật Bản). Phần còn lại dài 1200m - 1300m, dự kiến sẽ phát triển cảng mới của cảng Sài Gòn, trong đó đến 2010 cũng sẽ đầu tư xây dựng 02 bến với chiều dài 600m.

 

 

Portcoast

 
 
 

Copyright © 2004 Portcoast Corp. All rights reserved